Home | Arcade | Tai Siu | Bau Cua
 
VietKungFu.com Something to Read Vườn Thơ
CÁCH THỨC LÀM THƠ ĐƯỜNG LUẬT .

Posted by caysay - 12th October 2008 - 05:21 AM
caysay mới lượm được cách chỉ dẫn làm thơ Đường Luật ở 1 trang web ,đem về đây để các bạn cùng tham khảo .

Cách Gieo Vần, Nguyên Tắc Đối, Luật Bằng Trắc và Cách Họa

Thơ Đường Luật còn có những tên gọi khác nhau như: Thơ Đường, Đường Thi, Thất Ngôn Bát Cú và Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Thơ Đường Luật có 2 loại: Tứ Tuyệt (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 4 câu) và Bát Cú (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 8 câu).

A- Thể Thất Ngôn Bát Cú

I- Cách Gieo Vần: Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau:
- Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ơi thì đi với ơi, vần tâm thì đi với tâm hoặc tầm.
- Trong bài thơ có 5 chữ vần được gieo ở cuối câu đầu (câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (2, 4, 6 và 8). Ngoài việc các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8 phải cùng một vần ra, cả 5 chữ mang vần đó phải khác nhau, trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (Ví dụ: dặm trường và mái trường or trái mơ và giấc mơ…)- Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hương, thương, trường... Nếu gieo vần thưa với thây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.

II- Nguyên Tắc Đối: Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ý, tình, và thể loại từ ngữ, v.v... Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v...
Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề ) Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết.

1. Đề gồm có hai phần:
- Phá đề (câu thứ 1):
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
- Thừa đề (câu thứ 2):
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4): Hai câu này phải đối với nhau.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự ) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng.

3. Luận (câu thứ 5 và câu thứ 6): Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc
thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về tình cảm. Hai câu này phải đối với nhau.

Nhớ nước, đau lòng con quốc quốc
Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia

Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. Đau lòng đối với mỏi miệng (trạng từ ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ ) và trắc đối với bằng.

4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8): Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc.

Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta

(Qua Đèo Ngang—Bà Huyện Thanh Quan)

Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với tình riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng.

III- Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc gồm có Thanh, Luật, và Niêm.

1. Thanh-Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc.

a) Thanh Bằng-là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, trinh...) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (vi’ dụ như: mà, hoàng, thành, trình...)

Thanh trắc-Là những tiếng hay chữ có dấu sắc (') dấu hỏi (?) dấu ngã (~) và dấu nặng (.). Ví dụ: Nhớ, tưởng, lữ, vọng

2. Luật-Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc.

a) Luật Bằng: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng. Ví dụ:

Vu dạo bước ngắm trời xinh

Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B = Bằng, T = Trắc và V = Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau:

1. B B T T T B B (V)
2. T T B B T T B (V)
3. T T B B B T T
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
6. T T B B T T B (V)
7. T T B B B T T
8. B B T T T B B (V)

Ví dụ:

Mời cô đến với góc vườn thơ
Khánh tiếng lung lay gót nhẹ chờ
Thi vận mực tươi hoa khẽ hé
Hoạ âm giấy liễng nhạc đường tơ
Nghe mưa tí tách buông màn khói
Thử gió vi vu thoảng giấc mơ
Một cách gieo hồn đùa lãng tử
Bài này chớ để ngó chơ vơ
(Nhã Uyên)


Luật Trắc: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc. Ví dụ:

Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng

Luật Trắc Vần Bằng-Luật Trắc Vần Bằng như sau:

1.T T B B T T B (V)
2.B B T T T B B (V)
3.B B T T B B T
4.T T B B T T B (V)
5.T T B B B T T
6.B B T T T B B (V)
7.B B T T B B T
8.T T B B T T B (V)

Ví dụ:

Văng VẲNG tai NGHE tiếng KHÓC gì?
Thương CHỒNG nên KHÓC tỉ TÌ tị
Ngọt BÙI, thiếp NHỚ mùi CAM thảo,
Cay ĐẮNG, chàng ƠI, vị QUẾ chị
Thạch NHŨ, trần BÌ, sao ĐỂ lại,
Quy THÂN, liên NHỤC, tẩm MANG đị
Dao CẦU, thiếp BIẾT trao AI nhỉ?
Sinh KÝ, chàng ƠI, tử TẮC quỵ

(Bà Lang Khóc Chồng—Hồ Xuân Hương)

Chú Thích: Những chữ CAPITALIZED (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, còn những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. Mẹo để nhớ:

Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận
Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh

Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; còn chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật thì gọi là thất luật.

3. Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau

Ví du: Luật Bằng

Câu 1 niêm với câu 8
1.B B T T T B B (V)
8.B B T T T B B (V)

Câu 2 niêm với câu 3
2.T T B B T T B (V)
3.TT B B B T T

Câu 4 niêm với câu 5
4.B B T T T B B (V)
5.B B T T B B T

Câu 6 niêm với câu 7
6.T T B B T T B (V)
7.T T B B B T T


Ví dụ: Luật Trắc

Câu 1 niêm với câu 8
1. T T B B T T B (V)
8. T T B B T T B (V)

Câu 2 niêm với câu 3
2. B B T T T B B (V)
3. B B T T B B T

Câu 4 niêm với câu 5
4. T T B B T T B (V)
5. T T B B B T T

Câu 6 niêm với câu 7
6. B B T T T B B (V)
7. B B T T B B T


Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay vì đang ở Luật Bằng thì lại đổi sang Luật Trắc. Vì Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm.
Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 CAPITALIZED):

Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung!
Năm THÌ mười họa, nên chăng chớ,
Một THÁNG đôi lần, có cũng không...
Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công.
Thân NÀY ví biết dường này nhỉ,
Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong.

Đổi thành thất niêm:

Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung!
Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng *** (thất niêm) ***
Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công.
Năm THÌ mười họa, nên chăng chớ,
Một THÁNG đôi lần, có cũng không...
Thân NÀY ví biết dường này nhỉ,
Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong.

Chú ý: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết dường nào!

Khi làm thơ Đường Luật thì phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa thì cũng không thể chấp nhận được.

Như đã nêu ra ở trên là các câu đối với nhau phải thật chỉnh. Có điều là không bắt buộc phải từng chữ một đối nhau mà có thể đối theo cụm từ. Nếu 3 chữ tạo thành nhóm danh từ (ở câu 3 chẳn hạng) thì ở câu 4 cũng dùng 3 chữ cùng nhóm để đối lại

Ví dụ

Ngày vương mãi nhớ hương tình cũ
Tháng quyện hoài mong bóng dáng xưa

(Trích "Xóm Tịnh Chiều Luyến Nhớ"—Vân Hạc)

Ngày (danh từ, bằng) đối với tha’ng (danh từ, trắc)
vương (động từ, bằng) đối với quyện (động từ, trắc)
mãi (phó từ, trắc) đối với hoài (phó từ, bằng)
nhớ (động từ, trắc) đối với mong (động từ, bằng).
hương tình cũ (cụm danh từ) đối với bóng dáng xưa (cụm danh từ)


B.Thơ Tuyệt Cú

Tuyệt cú theo nghĩa đen là ngắt câụ Là một thể thơ bốn câu (còn gọi là tứ tuyệt), có thể là cổ phong hoặc thơ luật, nhưng ý tứ, ý nghĩa phải trọn vẹn, sâu sắc. Cũng phải có mở có kết, có thể hiện nội dung chủ đề mình định nói

Ví dụ:

Chim buồn lẻ bạn chốn thâm sơn
Cánh ngã chao nghiêng ngắm nguyệt thường
Én lạc cô phòng thương nắng hạ
Diều đây lẻ phận nhớ thu đơn
(Nguyễn Duy)

Lối làm thơ tuyệt cú có thể tuân theo luật bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối của ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Ở thể cổ phong, thơ tuyệt cú càng rộng rãi hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng trắc, miễn là ý tứ sâu sắc, lời đẹp, giầu âm điệu ...


Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế )

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền


Đêm thuyền đậu bến Phong Kiều (Bản dịch của Tản Đà)

Trăng tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.



IV-Cách Họa Đường Thi:

Cao nhất trong Đường Thi là họa thơ với người khác. Khi họa một bài Đường Thi, người họa phải dùng lại các từ mang vần (chữ cuối của câu 1,2,4,6,8) của bài thơ muốn họa (gọi là bài XƯỚNG) và diễn tả theo ý thơ của mình. Bài họa nằm trong 3 loại tiêu biểu: Hoạ Vần, Họa Vần Đối Luật và Họa Nguyên Vận.

1) Họa Vần: Dĩ nhiên bài HỌA phải dùng lại vần của bài XƯỚNG, nhưng luật có thể thay đổi và ý nghĩa của bài Họa hoàn toàn khác với bài XƯỚNG.

Ví dụ như trong trường hợp VH dùng vần bài “Nhớ Nhà” của Bà HTQ để làm bài “Cảnh Vật Ngày Xuân”


Nhớ Nhà (Bà HTQ—Xướng)

Vàng tỏa non tây, bóng ác
Ðầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
Còi mục thét trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước càng ngao ngán
Mấy kẻ tình chung có thấu


Cảnh Vật Ngày Xuân (Vân Hạc—Họa vần)

Lụa thắm tung bay phất phới
Vườn hồng rực rỡ bướm vờn hoa
Xanh xanh khóm trúc xinh bờ dậu
Trắng muốt cành lê đẹp góc nhà
Trước ngõ mai đào chờ nắng xuống
Bên thềm cúc lựu đón sương sa
Hương trời sắc nước nên thơ quá
Cảnh vật ngày Xuân quả thật


2) Họa Vần Đối Luật: Như tên gọi, bài HỌA dùng luật trái với bài XƯỚNG. Nếu bài Xướng gieo theo Luật Bằng thì bài Họa đi theo Luật Trắc và ngược lại.

Ví dụ:

Xuân Hứng (Hàn Mặc Tử—Luật Bằng)

Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh
Ừ tết năm nay thật hữu tình
Pháo nổ nổ tan luồng thất nghiệp
Xuân về về ghẹo khách ba sinh
Hoa tươi sánh với thiên kiều gái
Cảnh đẹp dường như thủy mặc tranh
Cao hứng đã toan cầm bút vịnh
Đào nguyên đâu lại thoảng qua mành


Xuân Mộng (Họa by Vân Hạc—Luật Trắc)

Cảnh vật khoe mình dưới nắng xinh
Kià Xuân đã đến đượm hương tình
Tưng bừng pháo nổ mừng hồi phục
Rộn rã lời chào chúc tái sinh
Vạn bướm hòa màu tô mộng cảnh
Ngàn hoa trải sắc vẽ mơ tranh
Bên song thiếu nữ cười duyên dáng
Cứ ngỡ bồng lai đứng tựa mành




3) Hoạ Nguyên Vận: Ngoài việc giữ cùng luật, bài họa phải có chủ đề và ý nghĩa giống như bài Xướng.

Ví dụ:

Trời Quê Luyến Nhớ (Xướng by Vân Hạc)

Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng
Đàn em hớn hở hát reo vang
Bờ xa thấp thoáng đò đầy chuyến
Bến cũ xôn xao chợ lắm hàng
Bát ngát nương dâu dài cuối xóm
Bao la ruộng lúa ngập thôn trang
Tha phương vọng mãi mùa Xuân trước
Viễn xứ miên man nỗi nhớ làng


NHỚ QUÊ XƯA (Hoạ by Bích Trân)

Đàn bướm vờn hoa dưới nắng vàng
Hè về phượng nở, giọng ve vang
Cành cây chim chóc gù xây tổ
Bến chợ thuyền ghe bốc dở hàng
Chán cảnh bon chen rời phố thị
Vui đời mộc mạc đến thôn trang
Quê người vẫn nhớ về quê cũ
Nhớ mái nhà xưa nhớ xóm làng

Vân Hạc (biên soạn)



CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIỂU TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Ngoài việc các câu 3,4 and 5,6 phải đối, thời bấy giờ các nhà thơ còn đưa ra các thể loại đặc thù, được coi như là những "xảo thuật" để chứng tỏ người viết giỏi về từ ngữ và tạo thêm sự gay cấn cho người họa . Dưới đây là một vài thể loại tiểu biểu thường thấy trong thơ Đường Luật .

1) Thủ Nhất Thanh: Là thể thơ trong đó từ đứng đầu các câu đều giống nhau.

Ví dụ:

Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa
Mừng xuân,xuân mới, mới thêm ra
Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ
Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa

(Tám Mừng—Lạc Nam)


2) Thủ Vĩ Ngâm: Là thể thơ trong đó câu đầu (thủ) và câu cuối (vĩ) giống nhau..

Ví dụ:

Sông Hương da diết một chiều xưa
Mới đó mà nay đã mấy mùa
Nỗi nhớ xôn xao vờn gió thoảng
Niềm thương rạo rực quyện mây thưa
Chiều tà bóng ngả phai phai nắng
Đêm vắng trăng mờ lất phất mưa
Núi Ngự trông xa lầu vọng nguyệt
Sông Hương da diết một chiều xưa

(Bến Tương Tư—Gia Phong)


3) Vĩ Tam Thanh: Là thể thơ trong đó ba từ cuối trong mỗi câu có cùng cách phát âm.

Ví dụ:

Ta nghe gà gáy tẻ tè te
Bóng ác vừa lên hé hẻ hè
Cây một chồi cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bè lứa kia kìa kỉa
Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè
Danh lợi mặc người ti tí tỉ
Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe

(Ngẫu Hứng—Vô Danh)


4) Tiệt Hạ: Là thể thơ câu nào cũng bỏ lửng như bị ngắt bớt ở cuối câu nhưng ý nghĩa rõ rệt, người đọc có thể hiểu được..

Ví dụ:

Thác bức rèm châu chợt thấy mà…!
Chẳng hay người ngọc có hay đà …!
Nét thu dợn sóng hình như thể
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn
Nết na xem phải thói con nhà
Dở dang nhắn gửi xin thời hãy
Tình ngắn tình dài chút nữa ta

(Vô Danh)


5) Song Điệp: Là thể thơ mỗi câu đều có cặp điệp từ ở đầu hoặc cuối câu..

Ví dụ:

Vất vất vơ vơ, cũng nực cười
Căm căm cúi cúi có hơn ai
Nay còn chị chị anh anh đó
Mai đã ông ông mụ mụ rồi
Có có không không, lo hết kiếp
Khôn khôn dại dại, chết xong đời
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi

(Chuyện Đời –Nguyễn Công Trứ)


6) Thuận nghịch: Là thể thơ khi đọc xuôi hay đọc ngược đều có ý nghĩa và hợp vận.

Ví dụ:

Đọc xuôi:

Xa cách quê làng lại ghé thăm
Xát xơ vàng úa cỏ nghiêng nằm
Nhà hiên mái dột Bìm giăng kín
Ngỏ trước thềm loang Dậu phủ dăm
Tha thướt bóng Dừa hàng nối thẳng
Ngã nghiêng cành Trúc dãy liền tâm
Tà chiều quyện khói mờ thôn xóm
Xa vọng khoan hò ai hát ngâm …

Đọc ngược từ dưới trở lên:

Ngâm hát ai hò khoan vọng xa
Xóm thôn mờ khói quyện chiều tà
Tâm liền dãy Trúc cành nghiêng ngã
Thẳng nối hàng Dừa bóng thươ’t tha
Dăm phủ Dậu loang thềm trước ngỏ
Ki’n giăng Bìm dột mái hiên nhà
Nằm nghiêng cỏ úa vàng xơ xác
Thăm ghé lại làng quê cách xa …

(Trường Tương Tư)

***Sau đó bỏ hai chữ đầu mỗi câu đọc xuôi và bỏ hai chữ cuối mỗi câu đọc ngược sẽ trở thành thơ Ngũ Ngôn . Nếu tiếp tục bỏ bớt 1 hoặc 2 chữ đầu or cuối nữa, sẽ có những bài Tứ Ngôn hay Tam Ngôn Bát Cú. Nói tóm lại, một bài thơ làm theo thể Thuận Nghịch, nếu được chọn từ một cách khéo léo, sẽ đọc thành 8 bài Bát Cú! Đó là điểm độc đáo của Thể Thuận Nghịch!***


7) Liên Hoàn: Là thể thơ gồm nhiều bài Bát Cú liên kết với nhau, trong đó phần kết thúc của bài trên được lấy làm phần mở đầu cho bài kế tiếp.

Ví dụ:

Bao năm cách biệt Huế yêu ơi
Viễn xứ chiều buông nhạt tiếng cười
Vọng cảnh thương tình ngày lẻ bạn
Nhìn người luyến nghĩa buổi chung đôi
Sông Hương liễu rũ ôm tình nước
Núi Ngự thông reo trãi mộng đời
Cố quận sương mờ giăng chắn lối
Bùi ngùi lữ khách đếm sầu rơi

Sầu rơi cảnh vật nhuộm cô liêu
Rặng núi xa xa phủ ráng chiều
Ẩn hiện trời cao mây ảm đạm
Hoà lòng biển vắng sóng đìu hiu
Âm ba cuốc vọng lời kinh khổ
Réo rắt quyên ca điệu sáo diều
Đất lạ phong trần đời lữ thứ
Phiêu bồng vẫn giữ trọn lời yêu

Lời yêu thuở ấy tự tình trao
Ước hẹn tơ duyên thắm chỉ đào
Cứ tưởng men nồng hoà nhật nguyệt
Nào ngờ rượu đắng tách trăng sao
Cung đàn lổi nhịp dòng châu ứa
Tiếng hát buông lơi suối lệ trào
Mấy độ thu tàn mơ ảo giác
Tâm đầu ý hợp mộng hư hao

Hư hao một cõi vẫn hoài trông
Cách biệt sơn khê luống nghẹn lòng
Khắc khoãi người chờ nơi chốn ấy
Bàng hoàng kẻ đợi giữa tầng không
Cô phòng héo hắt thân nhi nữ
Gối chiếc tàn phai phận má hồng
Một thuở xa người sang xứ lạ
Hồn hoang chất chứa những ngày đông

(Vọng Cảnh Thương Tình Liên Hoàn Khúc—Vân Hạc)


8) Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt: Là thể thơ trong đó hai chữ cuối câu là cách nói lái của hai chữ đầu câu hay ngược lại.

Ví dụ:

Cai mô chả thấy hỡ cô Mai
Hồi bút hôm qua, nay hút bồi
Niếu đổ tường che vang nổ điếu
Thôi liên, cù cứa, hẹn Thiên Lôi
Vái sơ ông Địa cho vơ sái
Ngồi ráp bàn tiên lại ngáp rồi
Tánh thích đi tìm bao tích thánh
Đồi thanh, cảnh phật cũng đành thôi

(Cai Mô Cô Mai—Chu Hà)

User posted comments

newbieth is Offlinenewbieth says - 12th October 2008 - 04:47 PM
làm theo đúng mấy cái L này chắc chết wá

hn000092839 is Offlinehn000092839 says - 15th October 2008 - 12:30 AM
ặc ặc .. lão CS chưa gì đã post cho 1 bài dài... , pà kon hổng ai tiêu thụ hết 1 lân đâu ...


có lẽ nên tách ra từng đoạn, sau đó kèm vài bài thơ ví dụ , rồi nâng cao dần dần như vậy sẽ good hơn

caysay is Offlinecaysay says - 15th October 2008 - 11:07 AM

Originally posted by newbieth @ Oct 12 2008, 04:47 PM

làm theo đúng mấy cái L này chắc chết wá 


kg chết đâu NB ơi !Giỏi lắm thì bị rụng tóc như caysay thôi .

caysay is Offlinecaysay says - 15th October 2008 - 11:49 AM
hehe

caysay is Offlinecaysay says - 15th October 2008 - 11:53 AM

Originally posted by caysay @ Oct 15 2008, 11:49 AM

Originally posted by hn000092839 @ Oct 15 2008, 12:30 AM

ặc ặc .. lão CS chưa gì đã post cho 1 bài dài... , pà kon hổng ai tiêu thụ hết 1 lân đâu ...


có lẽ nên tách ra từng đoạn, sau đó kèm vài bài thơ ví dụ , rồi nâng cao dần dần như vậy sẽ good hơn


cái lão hn này chơi khôn quá !cứ ngồi 1 chổ run đùi rồi bắt tui làm cái này cái nọ .
Phần đăng bài tui đã làm xong ,phần "tách ra từng đoạn và kèm theo thơ ví dụ" tui nhường lại cho lão .




Bớ lão mù ông biến đâu mất dạng !
nay trở về tới ngõ đã đày tui
Luật thơ đường tui post chỉ dzậy thôi
hơi dài tí pà con chia từng đoạn
Ông thương tui mong ông đừng rào đón
Ở ngoài tường ... nhón nhón nói vòng vo
Mấy hỗm rày nhà cửa bắt tui lo
Còn ông cứ đi tìm...cái gì... ....đỏ (ah ,nhớ rồi :gà mống đỏ )
Ông có tin ,tui đục ông phù mỏ
Múa vài chiêu ông thành gió bốn mùa
Đừng già hàm ,tui chẳng dễ chịu thua
Muốn chuộc tội mau ra tay trợ giúp .

nguoididuong is Offlinenguoididuong says - 6th May 2009 - 07:54 AM

Chào bạn caysay

Vì nhận thấy trong bài bạn đưa ra có vài chỗ tôi có tài liệu chính xác hơn, nên mạo muội đưa ra đóng góp để quý bạn tùy nghi.

Bài bạn ghi là (Ngẫu Hứng—Vô Danh)
thì tôi cũng có với tên tác giả như sau :

Tự Giác
Tiếng gà bên gối tẻ tè te
Bóng ác trông ra hé hẽ hè
Non một chồng cao von vót vót
Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe
Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa
Ong nghĩa vui tôi nhẹ nhẻ nhè
Danh lợi mặc người ti tí tị
Ngủ trưa thức dậy khỏe khòe khoe.
Nguyễn Thượng Hiền

Thơ đổi Luật có nhiều nên khỏi cần sửa thơ của bà Hồ có thể khiến người sơ ý không đọc kỷ bị hiểu lầm.

Thơ Nôm có :

HÀ TIỆN

Giàu thì ba bữa khó thì hai (Luật Bằng
Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy
Nón đổi lá ngoài quần đổi ống
Dép thay da mặt túi thay quai
Dặn vợ có cà đừng gắp mắm (Luật Trắc
Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai
Thế gian mặc kẻ cười hà tiện
Ta chẳng phiền ai chẳng lụy ai.
Nguyễn-Minh-Triết

Thơ lấy từ Đường Thi :

VĂN LÂN GIA LÝ TRANH

Bắc đẩu hoành thiên dạ dục lan (Luật Trắc
Sầu nhân ỷ nguyệt tứ vô đoan
Hốt văn họa các Tần tranh dật
Tri thị lân gia Triệu nữ đàn
Khúc thành hư ức song nga liễm (Luật Bằng
Điệu cấp giao liên ngọc chỉ hàn
Ngân thược trùng quan thính vị tịch
Bất như miên khứ mộng trung khan.
Từ An Trinh

bài dịch
NGHE ĐÀN TRANH NHÀ HÀNG XÓM

Bắc đẩu ngang trời đêm sắp tan
Buồn trong trăng sáng ý mơ màng
Chợt nghe gác họa âm Tần vọng
Mới biết nhà bên gái Triệu đàn
Khúc trọn hẳn chau đôi mắt ngọc
Điệu mau e buốt ngón tay vàng
Lắng nghe then khóa còn chưa mở
Ngủ quách may ra mộng gặp nàng.
Đinh Vũ Ngọc

Thơ Tiệt Hạ:
Bài dưới đây bạn ghi là Vô Danh, tôi cũng có với tên tác giả

Thấy gái hồng nhan
Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà . . .
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đà . . .
Hình dung yểu điệu in như thể . . .
Diện mạo phương phi ngó tưởng là . . .
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn . . .
Nói năng phải lẽ giống con nhà . . .
Phải chi ta được mà ta để . . .
Ta để đem về để nữa ta . . .
Nguyễn Quí Tân

Vô đề
Ngất ngất ngơ ngơ cũng nực cười
Cằm cằm cụi cụi có hơn ai
Nay còn chị chị anh anh đó
Mai đã ông ông mụ mụ rồi
Có có không không lo chết kiếp
Khôn khôn dại dại ngoẳn xong đời
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi.
Nguyễn Thượng Hiền

Thân chào bạn caysay. Chúc vui

chunhee is Offlinechunhee says - 5th July 2009 - 07:58 AM
ai ma yeu tho!du vay ne!nguoi ko co tam hon van chuong thi chi co nao cung khong biet dau kakak du sao cung cam on ban da bay phuong phap lam tho

trieuvanky is Offlinetrieuvanky says - 7th April 2010 - 06:36 PM
Thơ hay không phải gieo vần
Mà hay là bởi có thần trong thơ
Thần hay không nói ngu ngơ
Thần hay là bởi nói thơ có vần hehe

You must logged in to post. Click here to login, or register.

Jump to